Niềm tin & Đức tin

Giáo sư : Con trai là một người theo đạo Thiên Chúa Giáo đúng không?

Sinh viên : Dạ đúng thưa giáo sư

Giáo sư : Vậy con có tin vào Chúa không?

Sinh viên : Tất nhiên rồi thưa giáo sư

Giáo sư : Chúa tốt lành chứ?

Sinh viên : Chắc chắn là như vậy

Giáo sư : Chúa có tất cả quyền lực không?

Sinh viên : Dạ có

Giáo sư : Anh trai tôi chết vì ung thư mặc dù anh ấy đã cầu nguyện với Chúa chữa lành cho anh ấy rất nhiều. Hầu hết trong chúng ta ai cũng đã cố gắng giúp đỡ người khác khi họ đau ốm. Nhưng Chúa thì không. Vậy cậu nói xem Chúa tốt lành như thế nào?

(Sinh viên im lặng)

Giáo sư : Cậu không thể trả lời phải không? Vậy chúng ta lại bắt đầu lại với câu hỏi : Chúa tốt lành không?

Sinh viên : Dạ có

Giáo sư : Quỷ Satan có tốt lành không?

Sinh viên : Không.

Giáo sư : Vậy quỷ Satan là đến từ đâu?

Sinh viên : Dạ, từ …Chúa mà ra…

Giáo sư : Đúng rồi. Con trai hãy nói cho ta biết, tội ác có tồn tại trên thế giới này không?

Sinh viên : Dạ có

Giáo sư : Tội ác ở khắp mọi nơi phải không? Và Chúa tạo nên tất cả mọi thứ, đúng không?

Sinh viên : Đúng!

Giáo sư : Vậy ai tạo ra tội ác?

(Sinh viên không trả lời)

Giáo sư : Vậy còn bệnh tật? sự đồi bại? lòng thù hận ? sự xấu xa? Tất cả những thứ kinh khủng đó vẫn tồn tại trên thế giới chứ?

Sinh viên : Dạ đúng , thưa Giáo sư

Giáo sư : Vậy, ai tạo nên chúng?

(Sinh viên không trả lời)

Giáo sư : Khoa học nói rằng chúng ta có 5 Giác quan để nhận định và quan sát thế giới xung quanh ta. Hãy nói cho ta biết, con đã từng thấy Chúa chưa?

Sinh viên : Dạ chưa.

Giáo sư : Nói cho ta biết cậu đã từng nghe Chúa nói chưa?

Sinh viên : Chưa, thưa Giáo sư

Giáo sư : Cậu đã từng cảm nhận thấy CHÚA, nếm được mùi vị của CHÚA, ngửi được CHÚA chưa? Cậu đã từng bao giờ nhận thức được bằng bất cứ giác quan nào về Chúa chưa?

Sinh viên : Chưa thưa Giáo sư. Con e là chưa cảm nhận được giác quan nào cả

Giáo sư : Vậy cậu còn tin vào Chúa không?

Sinh viên : Dạ có

Giáo sư : Theo kinh nghiệm, những thử nghiệm, những phương pháp chứng minh khác, Khoa học nói rằng CHÚA không hề tồn tại. Con nói về điều này thế nào, con trai?

Sinh viên : Không là gì cả. Tôi chỉ có niềm tin.

Giáo sư : Đúng rồi, đức tin. Và đó là vấn đề mà Khoa học gặp phải

Sinh viên : Thưa Giáo sư, có tồn tại một thứ gọi là “nóng” không?

Giáo sư : Có!

Sinh viên : Và có tồn tại thứ gọi là “lạnh” không?

Giáo sư : Có!

Sinh viên : Không có, thưa Giáo sư. Nó không hề có.

(Giảng đường bỗng trở nên im lặng với câu trả lời bất ngờ của cậu sinh viên)


Sinh viên : Thưa Giáo sư, giáo sư có thể có rất nhiều thứ gọi là nóng, và còn có thể nóng hơn, siêu nóng, cực kì nóng, nhiệt độ nóng trắng. Nhưng chúng ta không có bất cứ gì gọi là lạnh. Chúng ta có thể đạt đến nhiệt độ dưới 0 đến -458 độ, nhưng chúng ta không thể đạt đến mức thấp hơn con số đó. Không có bất cứ thứ gì gọi là lạnh , lạnh là một từ ngữ chúng ta dùng để mô tả sự vắng mặt của nóng . Chúng ta không thể đo lường được lạnh, lạnh đến đâu. Nóng là một loại năng lượng , và lạnh không phải là mặt trái của nóng, thưa giáo sư, chỉ là sự vắng mặt của nóng mà thôi.

(Giảng đường thinh lặng với những giải thích của cậu sinh viên)
Sinh viên : Còn về bóng tối thì sao thưa Giáo sư ? Có thứ gì để gọi là “bóng tối” không?

Giáo sư : Có. Đêm tối là gì, nếu nó không phải là bóng tối ?

Sinh viên : Giáo sư lại sai nữa rồi. Bóng tối là sự thiếu vắng của một thứ khác. Giáo sư có thể có được ánh sáng yếu, ánh sáng trung bình, ánh sáng mạnh, ánh sáng chớp. Nhưng nếu không có ánh sáng một cách thường xuyên, Giáo sư sẽ chẳng có cái gì để gọi là “bóng tối” .Trong thực thế, không có bóng tối , nếu có , Giáo sư có thể làm cho bóng tối trở nên tối hơn không thưa Giáo sư?

Giáo sư : Vậy vấn đề mà con đang muốn đề cập ở đây là gì , chàng thanh niên trẻ tuổi?

Sinh viên : Thưa giáo sư, điều mà tôi muốn nói ở đây là tiền đề triết học của Giáo sư có chỗ thiếu sót.

Giáo sư : Thiếu sót? Cậu có thể giải thích rõ hơn không?

Sinh viên : Thưa giáo sư, giáo sư đang giải thích trên tiền đề của sự đối ngẫu 2 mặt. Giáo sư chỉ rõ rằng có sự sống và có cái chết, có Chúa tốt và Chúa xấu. Giáo sư đang nhìn vào khái niệm về Chúa chỉ như một tập hữu hạn,chỉ bằng một cái gì đó có thể đo lường được. Thưa Giáo sư, Khoa học thậm chí không thể giải thích về một cách thức con người suy nghĩ như thế nào. Có thể là dùng những tín hiệu về xung điện và từ ngữ gì đó, nhưng chúng ta không bao giờ thấy được, nhưng bằng cách nào đấy chúng ta vẫn cũng có thể hiểu được người khác. Nếu chúng ta xem xét về cái chết là đối lập với sự sống, nghĩa là đang phớt lờ đi sự thật rằng cái chết không thể tồn tại như một thứ gì đó mà tồn tại hữu hình.
Sự chết không phải là đối lập với sự sống, chỉ là sự vắng mặt của sự sống. 
Điều này giải thích rằng : bệnh tật, tội ác, tất cả những thứ kinh khủng trên thế giới này đều không tồn tại, mà là vì chúng ta đang thiếu vắng đi 1 thứ, đó là tình yêu của 1 đấng tối cao nào đó.

Bây giờ Giáo sư hãy nói cho tôi biết, Giáo sư có dạy cho sinh viên của mình rằng họ tiến hóa như bây giờ từ loài khỉ không?

Giáo sư : Nếu như cậu đang đề cập về quá trình tiến hóa tự nhiên thì dĩ nhiên là có.

Sinh viên : Đã bao giờ giáo sư quan sát được quá trình tiến hóa bằng mắt thường chưa Giáo sư?

(Giáo sư lắc đầu và cười, bắt đầu nhận ra rằng vấn đề của cuộc tranh luận đang đi về đâu)

Sinh viên : Bởi vì không ai có thể quan sát được quá trình tiến hóa trong công việc và càng không thể chứng minh rằng quá trình này là một quá trình đang diễn ra. Vì thế thưa Giáo sư, có phải giáo sư không dạy bằng quan điểm cá nhân của giáo sư đúng không? Giáo sư là một nhà khoa học hay chỉ là một người thuyết giáo suông dạy đời?

(Lớp học bỗng trở nên ồn ào)

Sinh viên : Có ai trong lớp học này đã từng nhìn thấy được bộ não của Giáo sư chưa?

(Lớp học ồ lên những tiếng cười lớn)

Sinh viên : Có ai đó đã từng nghe về bộ não của Giáo sư, cảm nhận được bộ não đó, chạm được nó, hoặc ngửi được nó chưa? Không ai có mặt ở đây đã làm điều đó cả. Vì thế, theo như quy luật được thiết lập bởi kinh nghiệm, sự thử nghiệm, các phương pháp chứng minh, Khoa học nói rằng Giáo sư không có bộ não . Vậy chỉ bằng lòng kính trọng, thì làm sao chúng tôi có thể tin những gì Giáo sư dạy được, thưa Giáo sư?

(Căn phòng im lặng. Giáo sư nhìn chằm vào cậu sinh viên, không đoán được cậu ấy đang nghĩ gì )

Giáo sư : Tôi nghĩ là cậu hãy cứ để những thứ đó cho niềm tin, cậu con trai ạ.

Sinh viên : Đúng là thế đấy, thưa Giáo sư….Chính xác! Sự kết nối giữa con người và Chúa đó là NIỀM TIN. Tất cả những điều đó giữ cho mọi thứ vẫn tiếp tục sống, tiếp tục còn đó và phát triển.

***
Cậu sinh viên trong câu chuyện trên đây chính là EINSTEIN – Nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại
Nguồn: Sưu tầm

"Tôi muốn tiếp tục sống, ngay cả khi đã chết"


Sống ở thời đại mà “mọi lý tưởng đều bị chà nát và hủy hoại, khi con người phơi ra những mặt xấu xa nhất của mình, và người ra không biết có nên tin vào Thượng đế, vào sự thật và lẽ phải nữa hay không”, nhưng Anne Frank lại cảm thấy “Bất kể mọi sự, mình vẫn tin là bản chất con người vẫn tốt đẹp”.
Chiến tranh – nhắc lên hai từ đó thôi cũng đủ gieo vào lòng con người bao nỗi sợ hãi, hoang mang, đủ gợi lên trong lòng những người còn sống và đang sống biết bao đau thương, mất mát.
Năm 2005, Nhật ký Đặng Thùy Trâm sau hơn 30 năm lưu lạc trên đất Mỹ được đưa trở về với gia đình đã khiến dư luận bàng hoàng. Sự tàn khốc của cuộc chiến tranh Việt Nam được hiện lên sống động qua những trang viết của nữ bác sỹ 27 tuổi, và sự bất khuất của tinh thần con người một lần nữa được vinh danh.
Trước Nhật Ký Đặng Thùy Trâm, nhân dân thế giới cũng đã biết đến một tác phẩm tương tự – một cuốn sách thật sự đặc biệt. Đó cũng là một cuốn nhật ký, nhưng không phải của một người nào tham gia vào cuộc chiến, mà của một nạn nhân chiến tranh – một nạn nhân đặc biệt – một cô bé 13 tuổi: Anne Frank.
Là người sống sót duy nhất trong gia đình sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, ông Otto Frank trở về Amsterdam. Miep Gies và Elli (Bep) Voskuijl – những người đã che chở và giúp đỡ gia đình ông trong thời kỳ sống bí mật đã đưa cho Otto một cuốn sổ tay và một số giấy tờ có chữ viết của cô con gái Anne Frank. Đó là tất cả những gì còn lại sau khi gia đình người Do Thái tội nghiệp bị bắt đi vào một ngày đầu tháng 8 năm 1944.
Otto Frank sao cuốn nhật ký thành nhiều bản và tặng cho mọi người trong gia đình để làm kỷ niệm về vợ và các con gái của ông. Nhiều người giục ông xuất bản thành sách. Cuốn nhật ký được người cha lược bớt một phần rất nhỏ và được xuất bản lần đầu năm 1947. Kể từ đó, cuốn sách đã được dịch sang hơn ba mươi thứ tiếng và được dựng thành phim, thành kịch, truyền hình và cả truyện tranh.
Ở Việt Nam, “Nhật ký Anne Frank” được xuất bản lần đầu trước năm 1975 với bản dịch của Bửu Ý và được tái bản lại sau năm 1975.  Năm 2006, cuốn sách được tái bản hoàn thiện hơn với bản dịch của bà Đặng Kim Trâm – em gái liệt sỹ – bác sỹ Đặng Thùy Trâm. Và gần đây, một lần nữa, “Nhật ký Anne Frank” lại được Đông A và NXB Văn học tái bản một lần nữa.
Sự tàn phá của chiến tranh
Cho dù ở thời điểm nào, tác phẩm này vẫn giữ nguyên giá trị trong lòng nhân dân toàn thế giới bởi tính chân thực tuyệt đối của nó. Những dòng chữ còn phảng phất nét thơ ngây của một cô bé 13 tuổi nhắc người ta về sự rùng rợn của chiến tranh, nhắc những người đang sống hãy thêm quý trọng nền hòa bình được xây dựng trên xương máu của những người đã khuất, và đồng thời cũng là lời tuyên bố hùng hồn về tinh thần của loài người.
Năm 1942, Đức quốc xã chiếm đóng Hà Lan, những đạo luật bài trừ người Do Thái của độc tài Hitler đã buộc Anne Frank và gia đình phải lui vào sống bí mật trong một tòa nhà cũ – cũng là chính văn phòng làm việc của ông Otto Frank tại Amsterdam.
Với tham vọng xây dựng một “dân tộc thuần chủng”, Hitler đã ban bố những đạo luật bóp nghẹt quyền sống của người Do Thái. Anne Frank, xuất thân từ một gia đình có dòng dõi, với nhiều đóng góp cho cộng đồng đã từng có một cuộc sống vui vẻ hạnh phúc, được bạn bè yêu quý. Nhưng rồi sự phát triển của các phong trào kháng chiến kéo theo những biện pháp chống người Do Thái ngày một tàn ác, gia đình Frank nói riêng và cộng đồng người Do Thái nói chung đã bị đẩy đến chỗ không còn đường sống. Họ bị buộc phải học trường riêng, phải đeo sao vàng để phân biệt, bị cấm nhiều hoạt động cộng đồng, cũng như chịu các lệnh giới nghiêm hà khắc… Tiếp đến là những cuộc vây ráp và trục xuất đến các trại hành quyết.
Cuộc sống của gia đình Frank cùng một vài bạn bè của mình là gia đình Van Daan và ông Dussel trong “Chái nhà bí mật” gặp phải rất nhiều khó khăn. Mọi hoạt động của họ hầu như chỉ được diễn ra vào ban đêm, khi văn phòng không có ai, nhưng nhìn chung, mọi tiếng động đều phải hạn chế.
Bên cạnh những thiếu thốn về vật chất như thức ăn, đồ uống hay quần áo để mặc, những người sống bí mật còn phải ngày đêm đối trọi với nỗi sợ hãi bị phát hiện, với những lo lắng về cuộc chiến tranh cứ ngày một kéo dài, với sự kinh khiếp vì những trận ném bom oanh tạc, và trên tất cả, là nỗi khổ sở dày vò khi hàng ngày phải nghe tin người thân, bạn bè, những người đồng bào của mình đang bị tẩy chay, bị giết hại hết sức dã man trên khắp lãnh thổ Châu Âu.
Chiến tranh không chỉ bào mòn thể xác mà còn khiến tinh thần con người suy sụp đến cùng kiệt. Cuộc sống ở “Chái nhà bí mật” vì thế lúc nào cũng ngập tràn một không khí căng thẳng: “Người ta chẳng thấy gì ở đây, ngoài những gương mặt bất mãn, gắt gỏng, chẳng có gì hơn ngoài những tiếng thở dài và những lời than vãn bị nén lại”. Những người đàn ông dễ nổi nóng còn những người đàn bà thì khóc lóc, họ thậm chí nghĩ tới việc tìm đến cái chết, bởi cái chết có lẽ còn dễ chịu hơn.
Ngay cả Anne Frank, cô bé mà người ta ngỡ có thừa sinh lực và lạc quan cũng từng khóc ướt gối mỗi đêm, từng thấy mặc cảm tội lỗi khi mình vẫn được sống – dù trong khó khăn, thiếu thốn nhưng vẫn là “được sống” trong khi bạn bè mình đang bị đẩy đến những lò sát sinh của quân Đức.
Và tinh thần bất tử của loài người
“Những miêu tả của Anne Frank khiến tôi bàng hoàng nhận thức được sự tàn ác nhất của chiến tranh – đó là sự suy thoái tinh thần con người. Đồng thời, nhật ký của Anne Frank lại làm rõ đến thấm thía cái cao quý tột cùng của tinh thần đó” – đó là lời nhận xét của Cựu Đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ -  bà Eleanor Roosevelt – người đã dành cả cuộc đời mình để đấu tranh cho quyền con người.
Hơn hai năm sống trong “Chái nhà bí mật”, cô bé Anne Frank đã trưởng thành hơn rất nhiều. Phần lớn thời gian trong cuốn nhật ký, cô bé dành để viết về những trải nghiệm cuộc sống của mình, về những rắc rối và băn khoăn của tuổi mới lớn, về cả những niềm vui nho nhỏ như khi được làm công việc yêu thích, được ngắm nhìn bầu trời, được ngồi vai tựa vai bên cạnh một chàng trai, được tận hưởng sự ngọt ngào của nụ hôn đầu….
Cô bé nhìn cuộc sống khốn khó của mình bằng con mắt hài hước để làm vơi bớt những muộn phiền: “Mình coi việc lẩn trốn của bọn mình là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm, nhưng đồng thời cũng lãng mạn và thú vị… Mỗi ngày, mình lại cảm thấy nội tâm phát triển hơn, cảm thấy sự giải phóng đến gần hơn và cảm thấy thiên nhiên đẹp làm sao, mọi người tốt với mình làm sao, và cuộc phiêu lưu này thú vị làm sao! Vậy thì tại sao mình lại phải tuyệt vọng?”.Anne không ngần ngại bày tỏ những chính kiến về chính trị, những đam mê học hỏi và viết lách… Sau tất cả, người ta nhận ra một Anne 13 tuổi độc lập, có cá tính, mạnh mẽ nhưng cũng sở hữu một tâm hồn nhẹ nhàng, tinh tế, biết rung động trước cái đẹp.
Sống ở cái thời đại mà “mọi lý tưởng đều bị chà nát và hủy hoại, khi con người phơi ra những mặt xấu xa nhất của mình, và người ra không biết có nên tin vào Thượng đế, vào sự thật và lẽ phải nữa hay không”, thì Anne Frank lại cảm thấy “Bất kể mọi sự, mình vẫn tin là bản chất con người vẫn tốt đẹp”.
Thậm chí, cô bé 13 tuổi ấy còn tự thấy kinh ngạc khi mà mình vẫn chưa buông rơi các lý tưởng, “bởi vì dường như các lý tưởng đó quá ngớ ngẩn không thể nào thực hiện được”. Cô ấy bày tỏ: “Mình đang nhìn thấy thế giới dần chuyển thành một sự hoang dại, mình còn nghe thấy những tiếng sấm đang đến gần, nó sẽ hủy diệt cả bọn mình, mình cảm thấy rõ nỗi đau khổ của hàng triệu người, vậy mà nếu ngước nhìn lên bầu trời, mình nghĩ rằng mọi chuyện sẽ ổn thỏa, rằng cái tàn nhẫn sẽ chấm dứt, rằng hòa bình và yên tĩnh sẽ trở lại”.
Bởi vì trên đời còn tồn tại những niềm tin bất diệt như thế, nên cuộc chiến tranh rồi cũng qua đi, dù nó còn để lại rất nhiều khổ đau, mất mát. Anne Frank đã vĩnh viễn ra đi ở tuổi 16, nhưng tinh thần và ý chí của cô thì vẫn còn sống mãi trên từng trang sách, và cả trong trái tim của nhân dân toàn thế giới.
Ước nguyện của cô: “Tôi muốn tiếp tục sống, ngay cả khi đã chết đi” đã thành sự thật. Ngày nay, “Chái nhà bí mật” đã trở thành nơi viếng thăm của du khách quốc tế – những người ngưỡng mộ trái tim cô gái Do Thái quả cảm. Quỹ Anne Frank đã thành lập Trung tâm Thanh niên Quốc tế – nơi gặp gỡ của lớp trẻ, ở đó thanh niên được nghe các bài giảng, được thảo luận và hội thảo về những vấn đề quốc tế. Trường trung học Montessori ở Amsterdam, nơi Anne từng học nay cũng đã mang tên cô…
Và “Nhật ký Anne Frank” sẽ trở thành tài sản vô giá của nhân loại. Ngày nay, ở đâu đó trên thế giới, chiến tranh vẫn chưa chấm dứt. Nhưng các dân tộc nô lệ và áp bức, đừng lo, bởi “Kẻ yếu sẽ thua nhưng người mạnh mẽ sẽ không bao giờ đầu hàng”; Hãy ngước nhìn bầu trời và vững tin rồi một ngày nào đó mọi chuyện sẽ lại ổn cả…
Hoàng Hải Anh
Nguồn tuanvietnam.net

Những chấn thương tâm lý hiện đại: Sống trên đường

Mỗi buổi sáng thức dậy nỗi lo đầu tiên của nhiều người dân thành phố hiện thời là lo con đường từ nhà đến nơi làm việc liệu có ách tắc gì không. Thuở mọi người còn nghèo, người ta chỉ đạp xe đi làm và mọi vui buồn lúc ấy dồn cả vào chiếc xe đạp cà khổ. Nay số người có xe máy ngày mỗi đông, mà lạy giời, xe cũng ít hỏng, tưởng đã đỡ lo. Thì lại nảy sinh cái khổ về đường sá! Đường xấu đường tốt đường bụi đường sạch, đường còn nguyên lành và đường bị đào xới, cái đó cũng phải tính toán một phần, nhưng con người nơi đây gian khổ đã quen, thế nào rồi cũng chịu được. Nhưng từ lúc nào không biết, tự nhiên đường trở nên quá đông đúc, và sự ùn tắc trở nên thường xuyên, cái ấy mới rầy rà. ùn tắc nghĩa là gì? Là xe máy mà tốc độ chỉ bằng xe đạp, hoặc đi bộ. Là mất thì giờ chờ đợi. Là đến sở muộn. Là lỡ hẹn. Là hỏng việc… Nhưng ở đây tôi muốn nói thêm một khía cạnh tâm lý: Trong việc đi lại hiện thời, con người như bị kéo sống gần nhau hơn. Bao nhiêu cái xấu vốn có được bày ra và buộc nhau phải chịu đựng. Và một cách tự nhiên cứ phải nghĩ ngợi về văn hoá chung sống của cả xã hội.

Tạm kể ra đây một ít nặng nề về mặt tâm lý, mà trong cảnh giao thông căng thẳng chen vai thích cánh trên đường, hàng ngày mỗi chúng ta phải chịu:

- Ở nhiều nước trên thế giới hiện nay, còi xe đã là một phương tiện bị cấm, và chỉ được phép dùng trong những hoàn cảnh đặc biệt. Nhưng ở ta thì còi xe vẫn tha hồ lưu hành, và nhiều lúc không gì thay thế nổi. Có điều đáng lẽ chỉ xem việc dùng còi là bất đắc dĩ, thì một số người lại thích thú nhấn còi cho thật inh ỏi. Hình như những người này coi đây là phương tiện hành hạ người khác, anh mà không nhường đường để cho tôi đi trước thì còn là khổ vì tiếng còi của tôi! Ngoài ra còn có tiếng còi vênh vang, tiếng còi khoe của, tiếng còi chơi trội… đủ kiểu!

- Đường đã đông, song nhiều người cứ cố luồn lách vượt lên, ra cái điều mình khôn ranh sáng ý, thạo đời hơn người. Tự bản thân nó, việc đi vào những con đường ngược chiều và vượt đèn đỏ ở các ngã tư đã là phạm luật và gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Song với người nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ, nó cứ như một sự trêu ngươi: Các anh hiền lành thực thà thì các anh khổ, xem này, tôi có sao đâu(!)

- Có một khái niệm hơi cũ là sự làm phiền. Đứng về mặt luật pháp thì chả ai cấm tôi chở bó củi hay bao tải hàng sau xe, nhưng trên đường đi, như vậy là tôi đã choán chỗ công cộng và gây khó chịu cho chung quanh. Vậy, mong các anh thứ lỗi – Đại khái, cảm giác thấy mình làm phiền bắt đầu từ một nhận thức như vậy. Thế nhưng loại người biết lo nghĩ cho chung quanh đang “hơi bị hiếm”. Đường là của chung và ai giỏi chiếm dụng, kẻ đó được lợi lộc nhiều, họ nghĩ thế. Còn như khách quan mà xét, cái sự khuếch trương của họ giống như một sự ăn cướp không gian của người khác, họ không cần biết. Nhiều khi sự trâng tráo ở đây đã vượt qua mọi giới hạn. 

Một trong những đặc điểm của cuộc sống đô thị, là khả năng làm cho con người trở nên vô danh. Chẳng hạn khi đi ra đường, ấy là lúc không ai biết ai làm nghề gì, nhà ở đâu, học vấn ra sao, đang có cương vị như thế nào. Ta chỉ còn là một người đi đường bình thường như mọi người. Sự vô danh lúc này mang lại cho mỗi cá nhân một ít tự do, anh ta không phải đóng cái vai mà anh ta vẫn đóng, và do đó có thể dễ dàng đi thẳng tới cái đích của mình. Thế nhưng ở ta nhiều người không nghĩ như thế. Sự vô danh được khai thác vào những mục đích khác. Hoặc có khi ăn mặc lôi thôi lếch thếch ra cái điều bất cần đời. Hoặc diện xe máy hẳn hoi, song thản nhiên dóng xe song đôi mà tâm sự… Trai gái đèo nhau vuốt ve nhau như ở chỗ không người. Qua cầu buồn tình dừng xe đái bậy… Tự do được xem đồng nghĩa với vô lối, bất cần, không để ý đến bất cứ ai khác.

Ở trên, chúng ta vừa nói cái đáng sợ nhất đối với người đi đường hiện nay là lối phóng xe ào ào lao tới, gây kinh hoàng sợ hãi. Nhưng đến khi gặp phải cái cảnh mấy cô gái ăn mặc thật diện, lững thững sang đường, sẵn sàng dừng lại nhởn nhơ kéo áo, vuốt tóc ngay giữa dòng xe cộ tấp nập, thì người ta cũng chỉ còn có cảm tưởng về một sự cám cảnh vô duyên. Một khi những cái rề rà chậm chạp vẫn còn tìm được chỗ đứng của mình, trong không khí sôi động nói chung, tức là mọi sự chuyển pha còn dang dở, và cái nếp sống gọi là hiện đại, mới chỉ là bề ngoài, ở trong còn bao điều trơ lỳ, tĩnh tại.

Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới (bản dịch của NXB Đà Nẵng 1997) là một cuốn sách mang tính cách tổng hợp, ở đó, những người biên soạn tìm cách đọc ra trong mọi hình thức của đời sống cái nội dung mà nhiều thế hệ đã gửi gắm vào nó. Theo từ điển này thì chính nhà tâm lý học C. Jung cho rằng “cần coi các xe cộ, trong ý nghĩa tượng trưng của chúng, như những hình tượng của cái tôi. Chúng phản ánh các mặt khác nhau của cuộc sống nội tâm, có quan hệ với các vấn đề phát triển của nhân cách”. 

Vậy thì đâu là những cái tôi mà người ta có thể đọc ra, khi nhìn vào dòng xe cộ tấp nập trên đường hôm nay? Dĩ nhiên nay là lúc có thể nhận ra rất nhiều cái tôi năng nổ, cái tôi bứt phá trên đường nhằm đạt tới mục đích xa rộng. Qua rồi cái thời già trẻ bảo nhau nhẫn nại chịu khổ, thủng thẳng đạp xe đến đâu hay đến đấy. Mà mỗi phút bây giờ đều được quy ra tiền của, mỗi người trên xe là một cá nhân khao khát tự khẳng định! Song cũng phải nói, chưa bao giờ như bây giờ, những cái mầm tai hoạ nho nhỏ vùi sâu trong mỗi cá nhân lại công khai bộc lộ trên đường như vậy. Một mặt chưa phải là hết cái tôi bản năng tự phát, đã ngồi trên xe có động cơ phi trên đại lộ rồi mà vẫn mang nặng tâm lý anh chàng đi xe đạp nghênh ngang ở giữa đường làng. Mặt khác, điều đáng lo ngại hơn, là rất nhiều cái tôi hiếu thắng, vênh váo vì có được cái xe lạ, hoặc hỉ hả ra mặt khi vượt trước kẻ đồng hành. Thường thì những cái tôi hiếu thắng này đồng thời cũng là cái tôi thiển cận: Người ta sát khí đằng đằng lao tới trước vì tưởng rằng có thể mưu cầu hạnh phúc riêng cho mình, có biết đâu mỗi cá nhân vẫn chỉ là một phần tử nhỏ bé của cái dòng chảy chung là cả xã hội, thoát làm sao được!

Số phận con người thời nay là phải dành nhiều sự sống trên đường. Song có cái lạ là ở những nước biết tổ chức giao thông hợp lý và đưa nó lên trình độ hiện đại, thường sau khi đi một quãng đường dài, xem đồng hồ, người ta mới ngạc nhiên là mình đã ngồi trên xe đến hàng giờ và vượt qua cả trăm cây số. Ngược lại ở ta nếu tính tới những bực bội mà bản thân phải chịu trên đường từ nhà đến sở, đôi lúc ta tưởng đã đi được rất xa trong một thời gian rất lâu. Song tính kỹ, hoá ra chỉ đi độ 5-6 km trong 10-15 phút gì đấy! Hệ thống đường sá kém cỏi cố nhiên là yếu tố đầu tiên khiến mỗi chúng ta có cái cuộc sống trên đường kỳ cục như hiện nay. Song đấy là chuyện vượt lên trên tầm lo liệu của mỗi người. Rút lại, câu chuyện tôi muốn nói hôm nay chỉ là mong sao mỗi chúng ta khi ngồi trên xe có thêm ý thức về hoạt động của mình, nghĩ thêm hoạt động của mình, nghĩ thêm về mọi mặt phiền toái ta gây cho người khác để rồi biết điều một chút, nhường nhịn một chút trong đi lại – chỉ một chút thôi, thì cuộc sống trên đường của những người đồng hành với mình cũng đỡ nặng nề đi rất nhiều. Và đó chính là văn hoá.

GS VƯƠNG TRÍ NHÀN
Nguồn: Lớp học vui vẻ

Khi chúng ta là BẠN

Khi Chúng Ta Là Bạn Thì Tôi...

(A)ccept you as you are - Chấp nhận con người thật của bạn.
(B)elieve in "you" - Luôn tin tưởng bạn.
(C)all you just to say "HI" - Điện thoại cho bạn chỉ để nói "Xin chào".
(D)on't give up on you - Không bỏ rơi bạn.
(E)nvision the whole of you - Hình ảnh của bạn luôn ở trong tâm trí tôi
(F)orgive your mistakes - Tha thứ cho bạn mọi lỗi lầm.
(G)ive unconditionally - Tận tụy với bạn.
(H)elp you - Giúp đỡ bạn.
(I)nvite you over -- Luôn lôi cuốn bạn.
(J)ust "be" with you - Tỏ ra "xứng đáng" với bạn.
(K)eep you close at heart - Trân trọng bạn.
(L)ove you for who are - Yêu quí bạn bởi con người thật của bạn.
(M)ake a difference in your life - Tạo ra khác biệt trong đời bạn.
(N)ever judge - Không bao giờ phán xét.
(O)ffer support - Là nơi nương tựa cho bạn.
(P)ick you up - Vực bạn dậy khi bạn suy sụp.
(Q)uiets your tears - Làm dịu đi những giọt lệ của bạn.
(R)aise your spirits - Giúp bạn phấn chấn hơn.
(S)ay nice things about you - Nói những điều tốt đẹp về bạn.
(T)ell you the truth when you need to hear it - Sẵn sàng nói sự thật khi bạn cần.
(U)nderstand you - Hiểu được bạn.
(W)alk beside you - Sánh bước cùng bạn.
(X)amine your head injuries - "Bắt mạch" được những chuyện khiến bạn "đau đầu".
(Y)ell when you won't listen - Hét to vào tai bạn mỗi khi bạn không lắng nghe.
(Z)ap you back to reality - Và thức tỉnh bạn khi bạn lạc bước.

Nguồn: Sưu Tầm

14 câu nói vô tình làm trẻ tổn thương nặng nề

Đôi khi trong lúc giận, có thể bạn vô tình bạn thốt ra những câu nói làm tổn thương con mình. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của trẻ sau này. Do vậy, trong cuộc sống hàng ngày, bạn cần thận trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ và tránh những câu nói sau:

Xưng hô “mày, tao” với trẻ
Nhiều người thường xưng hô “mày, tao” với con. Khi bạn xưng hô như vậy là không lịch sự với con cái và không có văn hóa. Bạn nên xây dựng một nếp sống gia đình truyền thống, tuyệt đối không được xưng hô như vậy với bất kỳ ai trong gia đình, bạn bè…

Quát trẻ: “Im ngay!”
Bạn không nên quát con, đôi khi chúng ta nên chú ý lắng nghe con cái nói, chia sẻ. Như vậy, bạn không chỉ cho con quyền nói mà cả quyền tranh luận một cách dân chủ, thoải mái trong khuôn khổ cho phép. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng vẫn thuộc về cha mẹ sau khi có những giải pháp mang tính định hướng.
imaFGGGGGGGGges
                                                                      Ảnh minh họa

"Bố (mẹ) không muốn có một đứa con như con!"

Nghe câu này, bé sẽ cảm thấy không được thương yêu, tôn trọng và mong đợi. Chúng sẽ mang theo ấn tượng này cho đến lớn. Và khi ấy, khó giữ được tình cảm.

“Bố (mẹ) sẽ không yêu con nữa!”
Khi bạn nói với con trẻ điều đó, thế giới trong mắt chúng gần như sụp đổ. Mối quan hệ với mẹ - đó là chiếc cầu nối chúng với cuộc sống xung quanh. Mất chiếc cầu ấy, với trẻ sẽ là một vực sâu mà chúng không biết bám víu vào đâu. Ngoài ra khi nói câu đó, bạn sẽ không làm cho trẻ nghe lời. Nó sẽ không làm bất cứ điều gì mà bạn yêu cầu với cách dọa dẫm đó!

“Con thật là hậu đậu!”
Khi trẻ bị chê, trẻ chỉ nghĩ đến một điều duy nhất: “Mình là đứa chẳng ra gì” và như thế là bạn đã không cho trẻ một cơ hội để thay đổi, trở nên tốt đẹp hơn. Và như thế thì hà cớ gì trẻ phải sạch sẽ hơn hay khéo léo hơn? Bản chất của nó đã là như thế rồi mà.

“Mẹ đã nói, con đừng cãi!”
Đây là câu mà các bậc phụ huynh nhắc lại sau khi đã nói điều gì đó nhiều lần mà con không nghe. Trẻ sẽ hiểu câu này là: Cha mẹ là người lớn, con là con nít, trứng không khôn hơn vịt được.

Sao con xấu tính giống bố (mẹ) con thế!”.
Chê một người đồng thời chê một người khác nữa thì chẳng hay chút nào, nhất là người đó là bố (mẹ) của trẻ. Vậy thì, bạn không nên chê bai ai đó trước mặt con mình, điều này sẽ làm họ mất lòng và tạo ra sự nhìn nhận không hay của trẻ đối với bố (mẹ).

“Khi bằng tuổi con, bố (mẹ) không bao giờ làm thế?”
Việc xây dựng hình mẫu mang tính biểu tượng là bố (mẹ) là điều tự nhiên nhưng nên làm gương tích cực hơn là đề cao thái độ tiêu cực của trẻ.

“Con hư, bố (mẹ) đuổi con ra khỏi nhà!”
Điều này khiến trẻ sợ hãi mà sinh ra tâm lý bất an hoặc sự nghi ngờ hoặc tình cảm của bố mẹ hoặc nghĩ cách đối phó. Câu nói này sẽ gây ấn tượng không tốt cho trẻ và cũng không phải là cách giáo dục tốt.

“Con xem, bạn con ngoan và học giỏi hơn con nhiều!”  
Khi so sánh với đứa trẻ khác sẽ có hai mặt, vừa tích cực và vừa tiêu cực. Nếu trẻ có suy nghĩ đúng, và có tư tưởng phấn đấu sẽ cố gắng học tập bạn tốt, người lại nó sẽ phản ứng tiêu cực, sẽ “ì” ra và sẽ không phấn đấu, thậm chí còn làm ngược lại. Chúng ta nên so sánh trong điều kiện, hoàn cảnh phù hợp.

Không nên ảo tưởng về con mình
Thường thì bố (mẹ) luôn coi coi mình là giỏi nhất, tốt nhất. Tuy nhiên, chúng ta không nên ảo tưởng về con mình và không nên để con ảo tưởng về khả năng của bản thân

“Con cứ lo học, việc khác đã có người làm”
Đối với trẻ, học là việc quan trong nhất. Tuy nhiên, bạn cũng nên để trẻ tham gia và có ý thức làm các việc khác trong gia đình dù nhỏ từ lau nhà, rửa bát, trông em…Điều này sẽ tốt hơn cho trẻ, thay vì suốt ngày chỉ học trên sách vở.

“Con mà học giỏi, bố (mẹ) sẽ đáp ứng những gì con muốn!”
Việc khuyến khích, động viên trẻ, kể cả treo thưởng những không phải bằng mọi giá. Tốt nhất, bạn hãy để cho trẻ thấy được rằng, học giỏi là vì trẻ, lợi ích cho chúng chứ không phải là học cho bố mẹ

“Con không được chịu thua bạn bè!”
Bạn hãy tìm cách động viên trẻ nỗ lực trong mọi việc nhưng không nhất thiết phải luôn hơn ai đó. Bắt con phải hơn mọi người bạn có thể tạo ra mầm mống suy nghĩ ganh đua không lành mạnh, ích kỷ, độc đoán cho trẻ?

Lan Ý - (theo Times of India)
Nguồn: VnMedia